webmail

 

 

 

Phì đại lành tính tuyến tiền liệt (PĐLTTTL) là một bệnh phổ biến ở nam giới từ sau tuổi trung niên, tỷ lệ mắc bệnh tăng lũy tiến theo tuổi, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có trên 50% nam giới ở độ tuổi từ 60 - 70 tuổi bị PĐLTTTL, tỷ lệ này lên từ 85- 88% ở người 80 tuổi trở lên. Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của xã hội, tuổi thọ người dân ngày càng cao, tỷ lệ số người PĐLTTTL theo đó cũng tăng lên.

PAE 1

                  Cắt dọc tuyến tiền liệt bình thường và phì đại

Biểu hiện lâm sàng của PĐLTTTL thường là rối loạn tiểu tiện như: đái gấp, đái són, đái không hết bãi, khó đái, bí đái,... Nguyên nhân của những rối loạn là do tình trạng tắc nghẽn cơ học khi tuyến tiền kiệt phì đại kèm theo những phản ứng thần kinh thích ứng. Chính sự chèn ép của tuyến tiền liệt và những kích thích thần kinh này làm cản trở đường ra của nước tiểu và là nguyên nhân gây ra sỏi bàng quang, ứ nước thận, làm tăng khả năng nhiễm khuẩn tiết niệu, suy giảm chức năng thận và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

PAE2

      Chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng do rối loạn tiểu tiện

Chẩn đoán PĐLTTTL cần dựa vào các triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm máu, nước tiểu và đặc biệt các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ rất có giá trị, đặc biệt là những máy cộng hưởng từ có từ lực mạnh từ 1 Tesla trở lên.  

Có nhiều phương pháp để lựa chọn trong điều trị PĐLTTTL như nội khoa, ngoại khoa, các yếu tố vật lý... tùy theo giai đoạn phát triển cũng như mức độ gây rối loạn tiểu tiện của u, trong các phương pháp điều trị thì phẫu thuật nội soi hiện đang được áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, ngày nay nhiều bệnh nhân PĐLTTTL không muốn phẫu thuật cắt bỏ khối u vì nhiều lý do như phẫu thuật có thể gây các biến chứng như: bí tiểu, tiểu máu, viêm đường tiết niệu, thời gian nằm viện dài, thời gian tái phát tương đối ngắn,  xuất tinh ngược dòng và đặc biệt có thể gây rối loạn cương dương.

Cùng với sự tiến bộ của khoa học, ngày càng có nhiều phương pháp điều trị PĐLTTTL trong đó có phương pháp nút động mạch tuyến tiền liệt (PAE- Prostatic Artery Embolization), mục đích của phương pháp này là làm tuyến không được nuôi dưỡng và nhỏ đi, từ đó giảm hoặc mất các triệu chứng lâm sàng giúp cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Phương pháp này là một tiến bộ vượt bậc về can thiệp mạch máu của chuyên ngành Chẩn đoán hình ảnh và đã được dụng rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước như Bồ Đào Nha, Brazil, Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc, ... hiệu quả của kỹ thuật này đã được chứng minh trong nhiều thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng. Tại Việt Nam, khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Bạch Mai đã tiến hành nút động mạch tuyến tiền liệt hơn 30 trường hợp với kết quả tốt, không gặp tai biến nào. Bệnh viện Hữu Nghị cùng với khoa chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Bạch mai cũng đã triển khai phương pháp điều trị này với kết quả rất đáng khích lệ.

Với phương pháp này bệnh nhân chỉ cần gây tê tại chỗ ở vùng bẹn, thầy thuốc sẽ đưa một ống thông nhỏ vào động mạch chậu, chụp chọn lọc nhánh động mạch cấp máu cho tuyến tiền liệt sau đó bơm vật liệu gây tắc mạch (hạt PVA hoặc hạt vi cầu) vào lòng động mạch, bệnh nhân có thể ra viện sau một vài ngày. 

PAE3

                               Kỹ thuật nút động mạch tuyến tiền liệt

PAE4

Kích thước #46x48x50 mm => 55g ram

PAE5

 Động mạch tuyến tiền liệt tăng sinh               Giảm sau nút ĐM tuyến tiền liệt

PAE6

                Kiểm tra sau nút mạch 1 tháng kích thước #34x34x43mm => 25 gram

Hình minh họa: BN Tô Thanh Th. 67 tuổi, hình ảnh cộng hưởng từ trước và sau nút động mạch tuyến tiền liệt 1 tháng, khối lượng tuyến đã giảm >50%

Như vậy, ngoài phương pháp điều trị nội khoa, ngoại khoa, giờ đây các Thầy thuốc và người bệnh có thêm một lựa chọn nữa trong điều trị phì đại lành tính tiền liệt tuyến đó là phương pháp nút động mạch tuyến tiền liệt, đây là kỹ thuật chi phí không cao và hiện đã được Bảo hiểm y tế thanh toán. Nếu quý bệnh nhân có thắc mắc hay muốn tìm hiểu về phương pháp nút động mạch điều trị phì đại tuyến tiền liệt hãy gọi cho chúng tôi theo số điện thoại: Bs Trịnh Tú Tâm - Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Hữu Nghị 0933 866 977 hoặc email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. để được tư vấn.

 

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ PHÌNH TÁCH

ĐỘNG MẠCH CHỦ

Bs. Tô Hoàng Dương – Khoa HSTC

I.Đại cương:

-    Phình tách động mạch chủ (PTĐMC) là hiện tượng lớp áo trong  bị rách làm cho dòng máu bóc tách lớp áo giữa của thành động mạch. Đây là một cấp cứu nội khoa – ngoại khoa với tỷ lệ hiện mắc khoảng 5-30 ca/triệu người/năm), tần suất thay đổi phụ thuộc vào từng quần thể với các yếu tố nguy cơ khác nhau.

-    Tỷ lệ nam/nữ là 2/1, độ tuổi hay gặp nhất là từ 60 đến 70 tuổi. Tỷ lệ tử vong khoảng 1%/mỗi giờ trong 48 giờ đầu.

-    Triệu chứng bệnh thường đa dạng, dễ nhầm với nhiều bệnh cảnh cấp cứu khác, cần chú ý nghi ngờ mới có thể chẩn đoán và xử trí kịp thời, tránh những biến chứng gây tử vong.

II.Phân loại:

Phân loại theo DeBakey có 3 týp:

-         Týp I: thương tổn cả động mạch chủ lên và động mạch chủ xuống.

-         Týp II: thương tổn chỉ ở động mạch chủ lên.

-         Týp III: thương tổn chỉ ở đoạn động mạch chủ xuống. 

Phân loại theo Stanford gồm 2 kiểu:

-         Týp A: tổn thương đoạn động mạch chủ lên cho dù khởi phát ở bất kỳ đoạn động mạch chủ nào.

-         Týp B: thương tổn động mạch chủ đoạn xa kể từ chỗ xuất phát của nhánh động mạch dưới đòn trái.

Phân loại theo thời gian bị bệnh:

-         Cấp tính: thời gian kể từ khi khởi phát < 2 tuần.

-         Mạn tính: thời gian > 2 tuần, khoảng một phần ba số bệnh nhân thuộc nhóm mạn tính.

-         Tỷ lệ tử vong tăng dần lên trong vòng 2 tuần lễ đầu tiên, đạt cực đại vào khoảng 75-80%, tạo ra một ngưỡng tự nhiên về diễn biến bệnh.

III.Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh:

-    Giãn động mạch chủ hoặc tăng huyết áp gây rạn nứt nội mạc lòng mạch, sau đó máu sẽ thấm vào qua vết nứt. Dưới tác dụng của áp lực tuần hoàn theo nhịp đập, dòng máu thấm vào sẽ tách rời các lớp của thành động mạch chủ. Một số ít các trường hợp còn lại có liên quan với các yếu tố làm yếu thành mạch, dễ gây nên tách thành động mạch chủ: như hội chứng Marfan (biến dị nhiễm sắc thể làm thay đổi tổng hợp polypeptide).

-     Các yếu tố nguy cơ hay gặp của tách thành động mạch chủ bao gồm:

  • Tăng áp lực lên thành động mạch chủ
  • Tăng huyết áp.
  • Giãn động mạch chủ.
  • Van động mạch chủ một hoặc hai lá.
  • Hẹp eo động mạch chủ.
  • Thiểu sản quai động mạch chủ.
  • Do thủ thuật, phẫu thuật với động mạch chủ: dụng cụ thông tim, bóng động mạch chủ, vị trí phẫu thuật tim (đặt canuyn, kẹp động mạch chủ, nối mảnh ghép...).
  • Giảm sức chịu tải của động mạch chủ
  • Tuổi già.
  • Thoái hoá lớp giữa: hội chứng Marfan, hội chứng Ehlers-Danlos.
  • Hội chứng Noonan, hội chứng Turner, viêm động mạch tế bào khổng lồ.
  • Thai nghén.

IV.Triệu chứng lâm sàng:

  1. 1.Triệu chứng cơ năng:

-         Đau ngực:

            •                 Vị trí: phụ thuộc vào vị trí động mạch bị phình tách; ĐMC lên thường gây đau phía trước; ĐMC xuống thường gây đau phía sau lưng có khi lan xuống                   bụng.
              •                 Mực độ đau  có thể đau chói, dữ dội, như dao đâm, nhưng nổi bật là sự xuất hiện đau đột ngột nhanh chóng đạt mức tối đa. 
              •                 Hướng lan: ĐMC lên đau lan lên cổ vai; ĐMC xuống lan xuống lưng, bụng.
              •                 Không ít bệnh nhân hoàn toàn không đau. Một số khác có khoảng thời gian hoàn toàn không đau rồi đau trở lại. Đây là dấu hiệu báo động cho nguy                     cơ vỡ của phình tách động mạch chủ.

-         Một số biểu hiện khác: khó thở, vã mồ hôi, chóng mặt, mất ý thức . . .

  1. 2.Triệu chứng thực thể

-    Huyết áp: Khoảng 25 % trường hợp có tụt huyết áp và sốc do: hở chủ nặng cấp tính vỡ khối phồng, ép tim, hoặc rối loạn chức năng tâm thu thất trái. Có thể tử vong do ép ti

-    Triệu chứng của hở van động mạch chủ: Hay gặp do tách thành động mạch chủ đoạn gần. Thổi tâm trương nhưng âm sắc như tiếng chim gõ. Mạch và rõ ở bờ bên phải xương ức hơn và bên trái.

-    Mạch yếu, mất mạch, có chênh lệch về huyết áp giữa 2 tay. Triệu chứng mạch yếu hay mất mạch lúc có lúc không phụ thuộc vào tình trạng thay đổi của vật sắc. Đây là triệu chứng quan trọng để chẩn đoán.

-     Tiếng cọ màng ngoài tim: cũng gặp khi phình tách đoạn gần, có vỡ vào khoang màng ngoài tim các trường hợp này thường tử vong

-      Triệu chứng thần kinh:

  • Tai biến mạch não, đột quỵ.
  • Thiếu máu tuỷ sống và bệnh thần kinh ngoại vi do thiếu máu hay gặp nếu tách thành động mạch chủ đoạn xa.

-  Các triệu chứng của các nhánh động mạch xuất phát từ vùng động mạch chủ bị phình tách nhẹ

  • Động mạch gây nhồi máu cơ tim cấp khi tách gần động mạch chủ
  • Động mạch thận gây nhồi máu thận, tăng huyết áp mức độ nặng
  • Nhồi máu động mạch mạc treo, gây cơn đau bụng cấp tính dữ dội. Tử vong nhanh

-   Các biểu hiện khác

  • Tràn dịch màng phổi do khối phình vỡ vào khoang màng phổi
  • Phù phổi một bên do tách thành động mạch chủ lan vào động mạch phổi
  • Xuất huyết tiêu hoá cấp tính do loét thực quản hay tá tràng
  • Hội chứng horner do động mạch chủ phình giãn đè vào hạch giao cảm cổ
  • Khàn hay mất tiếng do chèn ép vào dây thần kinh thanh quản  
  • Khó thở do khối phình đè vào thực quản
  • Hội chứng trung thất trên, biểu hiện do chỗ phình giãn của động mạch chủ chèn vào tĩnh mạch chủ trên

 

-   Tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng có thể xác định 40 – 46 % tách thành động mạch chủ (theo von kodolisfch) dựa trên các triệu chứng

  • Đau ngực khởi phá đột ngột, hoặc cảm giác đau ngực chói dữ dội hoặc cả hai
  • Chênh lệch mạch, HA hoặc cả hai
  • Trung thất hay động mạch chủ giãn rộng hoặc cả hai
  • Nếu chỉ có triệu chứng số 2 đơn thuần hoặc ít nhất 2 trong 3 triệu chứng thì tỷ lệ đúng là 83 %. Nếu chỉ có triệu chứng 1 &3 đơn thuần thì tỷ lệ đúng là 31,39% chẩn đoán loại trừ 93% các trường hợp nếu không có triệu chứng nào

 

V.Cận lâm sàng:

 

  1. 1.Xquang:

-         Trung thất giãn rộng. Bóng trung thất to về bên trái là chính nếu tách thành động mạch chủ ngực, to về bên phải nếu tách động mạch chủ lên

-         Buồng khu trước ở quai động mạch chủ, giãn rộng cung động mạch chủ

-         Nốt vôi hoá: Lớp nội mạc bị vôi hoá sẽ cách khoảng lớp nội mạc > 1 cm nếu tách ở vùng này

-         Khác biệt giữa kích thước các phần động mạch chủ lên và xuống

-         Có thể có dấu hiệu lệch khí quản hoặc tràn dịch màng phổi trái

-         Các dấu hiệu này chỉ có tính chất gợi ý không có giá trị chẩn đoán xác định.

  1. 2.Điện tâm đồ:

-    Dày thất trái: dấu hiệu hay gặp nhất

-    Các dấu hiệu khác bao gồm: ST chênh xuống, thay đổi sóng T hoặc ST chênh lên. các dấu hiệu của thiếu máu cục bộ cơ tim có thể gặp nếu tổn thương động mạch vành

-    Các dấu hiệu của viêm màng ngoài tim, Block dẫn truyền có thể gặp trên điện tim.

 

  1. 3.CT ngực – bụng:

-   Có giá trị chẩn đoán xác định

-    Có thể xác định lòng thật là lòng còn lưu thông máu và lòng giả là lòng tạo bởi nội mạc và ngoại mạc bị bóc tách không lưu thông máu: có thể thấy huyết khối hoặc lòng giả, xác định tràn dịch màng ngoài tim

-         Nhược điểm: ngoài việc phải dùng thuốc cản quang là khó xác định nguyên uỷ của vết rách nội tâm mạc, khó khảo sát các nhánh bên của động mạch chủ bị tổn thương và không thể đánh giá mức độ HoC.

 

VI.ĐIỀU TRỊ:

  1. 1.Nội khoa:
    1.1. Hạ huyết áp cấp cứu: Khi nghi ngờ PTĐMC ngay cả khi chưa có chẩn đoán xác định.
    - Tiêu chí: Đồng thời phải hạ huyết áp tối đa đạt tới 100-120 mmHg và giảm dòng máu qua van động mạch chủ. Và cần ổn định huyết áp (giảm dp/dt: thay đổi huyết áp trên một đơn vị thời gian), giảm huyết áp tối đa và giảm nhịp tim.
    - Thuốc lựa chọn: Labetalon là thuốc chẹn beta và alpha làm giảm áp lực thành mạch, kiểm soát huyết áp nhanh chóng. Labetalon được tiêm tĩnh mạch 20 mg mỗi 2 phút; bổ sung 40-80 mg mỗi 10 phút (tối đa 300 mg) tới khi đạt được huyết áp đích. Hoặc thuốc có thể được truyền tĩnh mạch liên tục 2mg/phút dò liều cho đến khi đạt huyết áp đích. Với bệnh nhân HPQ, nhịp chậm…cần phải thử phản ứng thuốc ức chế beta, trong trường hợp này thì nên chọn esmolon vì thời gian bán thải ngắn. Liều nạp 0,5 mg/kg trong vòng 1 phút sau đó liều 0,0025 – 0,02 mg/kg/phút, dò liều để đạt nhịp tim 60-70 lần/phút. Trong trường hợp thuốc chẹn beta không kiểm soát được huyết áp, có thể cho thêm nitroprussid theo liều như sau: 50 mg nitroprussid pha trong 1000 ml Glucose 5 %, tốc độ truyền 0,5ml/phút tăng lên 0,5 ml mỗi 5 phút tới khi kiểm soát được huyết áp. Bệnh nhân HPQ không nên dùng thuốc chẹn kênh canxi, tuy nhiên có thể cho diltiazem và verapamil để thay thế cho chẹn beta.
    1.2. Giảm đau
    Giảm đau giúp kiểm soát tốt huyết áp hơn. Có thể cho Morphin Sulphat theo đường tiêm tĩnh mạch, cần dò liều ví dụ: Morphine 10 mg pha loãng thành 10 ml với Natriclorua 0.9%, sau đó tiêm tĩnh mạch 5 mg, sau 3-5 phút đánh giá lại đau, nếu không đỡ tiêm tiếp 5 mg.

 

  1. 2. Ngoại khoa:
    - Chỉ định phẫu thuật cho tất cả các PTĐMC Stanford type A. Bệnh nhân cần được chuyển tới bệnh viện có kíp mổ, gây mê hồi sức thành thạo.
    - Phẫu thuật có thể nối, thay đoạn mạch, thay van động mạch chủ nếu tổn thương có liên quan đến van động mạch chủ và mạch vành.
    - Đối với PTĐMC type B có biến chứng như dấu hiệu thiếu máu chi, động mạch thận, động mạch mạc treo…có thể có chỉ định phẫu thuật, song can thiệp mạch nội mạch để sửa đang là điều trị được lựa chọn hiện nay.

 

  1. VII.Theo dõi và tiên lượng:

-    Tiên lượng: phình tách động mạch chủ type A không được điều trị nguy cơ tử vong tăng 1% cho mỗi giờ trong vòng 72 giờ và hơn 90% không được điều trị tử vong sau 3 tháng. Tỷ lệ tử vong cũng rất cao với phình tách động mạch chủ type B biến chứng không được điều trị.

-     Phẫu thuật và can thiệp nội mạch tại cơ sở có kinh nghiệm sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong xuống dưới 10%.

-    Bệnh nhân phình tách động mạch chủ type B không biến chứng và được kiểm soát tốt huyết áp vượt qua được giai đoạn cấp có tiên thể sống kéo dài mà không cần mổ. Kích thước lòng giả vẫn tiếp tục phát triển mặc dù được điều trị tốt tăng huyết áp. Cần chụp CT động mạch chủ kiểm tra hàng năm theo dõi kích thước khối phình. Chỉ định sửa chữa, can thiệp nội mạch hàn chỗ rách tương tự như trường hợp phình động mạch chủ ngực không tách.

 

Tài liệu tham khảo:
1. Vũ Văn Đính và cs, Cẩm nang Hồi sức cấp cứu
2. Nguyễn Lân Việt và cs, “Thực hành bệnh tim mạch”, NXB Y học tái bản lần 1 có bổ sung 2007
3. Marc s. Sabine, aortic dissection, the Massachusetts General Hospital, 2008, 1-31
4. Sean O. Henderson, Aortic emergency, Emergency Medicine, p49-51
5. Steven G. Rothrock, Cardiology-Arrhythmias, Tarascon Adult, Emergency Pocketbook, 2009, p19-26.

MỐI QUAN HỆ GIỮA

BỆNH BÉO PHÌ VÀ CÁC NGUY CƠ TIM MẠCH

Chi đoàn Khoa Tim Mạch

Béo phì là một trong những vấn đề nổi cộm ở các nước phát triển và có xu hướng tăng mạnh mẽ ở các nước đang phát triển. Hiện nay, có khoảng 55% dân số Mỹ bị thừa cân (overweight) hoặc béo phì (obese). Đây là một hệ quả của sự phát triển xã hội, với đời sống dinh dưỡng ngày một nâng cao và lối sống phương tây hoá. Một vấn đề đã rõ ràng, là béo phì chính là một nguy cơ của sức khoẻ, với nhiều nguy cơ đặc biệt cho bênh tim mạch. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phải hiểu biết là có thể tránh được béo phì hoặc giảm được béo phì với những hiểu biết và chế độ an uống, sinh hoạt hợp lý. Béo phì được coi là bệnh của người nghèo ở các nước phát triển và người giàu của các nước đang phát triển. Với các nước đang phát triển, như Việt Nam, thừa cân và béo phì cũng đang dần trở thành vấn đề đáng lo ngại.

  tm1

Béo phì có ảnh hưởng gì đến sức khoẻ?

Một loạt các bệnh lý sau được biết rõ là có liên quan đến béo phì:

  • Bệnh động mạch vành (đau thắt ngực), nhồi máu cơ tim, có thể đột tử.
  • Suy tim ứ huyết (do nhu cầu ô xy và các chất dinh dưỡng của cơ thể béo phì là quá cao).
  • Tai biến mạch não (đột quỵ)
  • Viêm khớp đặc biệt là khớp háng và gối vì là những nơi bị tác động nhiều của trọng lượng cơ thể.
  • Tiểu đường (type II)
  • Tăng huyết áp
  • Rối loạn mỡ (lipid) máu
  • Cơn ngừng thở khi ngủ (Sleep apnea)
  • Tăng tỷ lệ ung thư vú, buồng trứng, tuyến tiền liệt, đại tràng...

Các nguy cơ này tăng ra sao? Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy nguy cơ các bệnh do béo phì gây ra là:

  • Tăng nguy cơ mắc bệnh động mạch vành lên 4 lần so với bình thường
  • Tăng nguy cơ đột quỵ lên 6 lần
  • Tăng huyết áp 12 lần
  • Tiểu đường tăng 6 lần

Đó là chúng ta chưa đề cập đến khía cạnh xã hội và tâm lý người bệnh bị béo phì. Chắc hẳn chúng ta không ai có thể coi béo phì là đẹp được!

Thế nào là béo phì?

Để hiểu thế nào là béo phì chúng ta cần hiểu về khái niêm Chỉ số khối cơ thể (BMI).

BMI =

Trọng lượng cơ thể tính bằng kilogam

(chiều cao tính bằng mét)2

Một số khái niệm thể trạng của người khu vực châu Á (theo Tổ chức Y Tế Thế Giới WHO) dựa trên BMI như sau:

  • "Thiếu cân": BMI < 18
  • "Bình thường": 18,5 - 23,0
  • "Thừa cân": 23,0 - 27,5
  • "Béo phì": > 27,5

Một số thông số khác dựa trên vòng eo và tỷ lệ eo/hông. Khi năm giới có vòng eo trên 90 cm hoặc nữ trên 80 cm là có nguy cơ cao. Nam giới thường béo bụng nhiều hơn (còn gọi là béo hình quả táo) và nguy cơ lớn hơn nữ giới thường béo hông (béo hình quả lê).

tm2

Những nguyên nhân dẫn đến thừa cân và béo phì là gì?

Rất khó có thể đưa ra một câu trả lời đơn giản cho nguyên nhân của béo phì. Thông thường béo phì và quá cân thường do lượng calo ăn vào vượt quá lượng calo tiêu thụ. Một số thuốc có thể gây béo phì. Một nguyên nhân quan trọng của béo phì là do yếu tố di truyền (gen). Các gen này có dịp phát huy mạnh khi con người ở môi trường mà các thức ăn giàu năng lượng sẵn có.

Yếu tố về tâm sinh lý cũng là một trong những nguyên nhân có thể gây béo phì. Như vậy, có nhiều yếu tố tương tác nhau để có thể là nguyên nhân dẫn đến béo phì. Tuy nhiên, duy trì được lượng calo đưa vào và lượng calo tiêu thụ ở mức cân bằng là một trong những biện pháp hữu hiệu ngăn chặn được béo phì. 

Tuy nhiên việc giảm cân và chống béo phì là một công việc không dễ dàng chút nào!

Việc này đòi hỏi nghị lực rất lớn, rất gian khổ và dễ chán nản, vì kết quả không thấy nbgay trước mắt và lại các thức ăn giàu năng lượng lại như những cám dỗ mang tính bản năng.

Hãy kiên trì và tập trung, vấn đề rất quan trọng là bạn cần có một chương trình hành động cụ thể, với những mục tiêu thiết thực cho từng giai đoạn. Và bạn cần phải hiểu rằng:

  • Bạn có thể giảm cân được.
  • Việc giảm cân sẽ làm thay đổi rõ rệt chất lượng cuộc sống và sức khoẻ của bạn.
  • Bạn đừng vội nghĩ tới một thân hình lý tưởng.
  • Bạn đã thành công khi bạn đã nâng cao được sức khoẻ của bạn!

 Có phải là một số bệnh có thể gây ra béo phì không?

Đúng, tuy nhiên rất ít loại. Béo phì có thể là hậu quả của cường các tuyến nội tiết như buồng trứng, tuyến thượng thận hoặc do suy giáp. Đôi khi một số khối u có thể gây ra béo phì.

 

Vậy thì, tôi đang bị béo phì và tôi đã sẵn sàng tích cực để giảm béo, tôi sẽ phải làm gì đây?

Trước hết hãy đặt cho mình những mục tiêu thực tế.

Nếu bạn đang tăng cân thì hãy tìm cách dừng ngay. Thậm chí bạn chỉ bị tăng 1-2 cân cũng hết sức cảnh giác.

Nếu ban thực sự đã thừa cân thì nên đặt kế hoạch giảm khoảng 10-15% và giữ như vậy. Tốt nhất là nên giảm cân khoảng 4-6 lạng trong một tuần là hợp lý để duy trì được mức dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Nếu giảm quá nhanh cũng có thể gây ra vấn đề cho cơ thể của bạn.

Hãy bắt đầu bằng cách tập thể dục đều đặn, khoảng 30-45 phút mỗi ngày và tất cả các ngày trong tuần. Không nên bắt đầu tập quá nặng và nên bắt đầu bằng đi bộ hoặc hình thức thể dục vừa phải thích hợp mà bạn thấy chịu đựng tốt.

Hãy học cách ăn uống hợp lý (xem bài chế ðộ ăn).

Hãy kiên trì và đừng chán nản, vì kết quả và lợi ích của việc giảm cân không phải nhìn thấy ngay trước mắt.

Nên chọn chế độ giảm cân như thế nào?

Có  rất nhiều chế độ giảm cân được đề xuất để giảm cân chống béo phì. Việc chọn chế độ ăn uống phải dựa trên hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống. Đôi khi cũng nên hỏi ý kiến tư vấn của bác sỹ. Tuy nhiên, cần lưu ý những nguyên tắc cơ bản như sau:

  • Béo phì là một tình trạng mạn tính nhưng có thể khống chế được bằng kế hoạch ăn uống hợp lý cho tương lai của bạn.
  • Rất dễ bị béo phì hoặc tăng cân trở lại sau những đợt tích cực chế độ giảm cân. Do vậy, phải luôn kiên trì và giữ gìn chế độ liên tục.
  • Không có một chế độ nào hoặc thuốc nào là kỳ diệu để có thể làm giảm cân và chống béo phì như ý muốn mà chi có sự kiên trì và nghị lực mới có thể giảm được cân và giữ được cân nặng.

Chế độ ăn ít chất béo có ý nghĩa gì?

Những nghiên cứu lớn và theo dõi lâu dài đã chứng minh rõ ràng là, chế độ ăn ít chất béo đã có tác dụng rõ ràng trong việc làm giảm tỷ lệ bệnh lý tim mạch (bệnh động mạch vành và tăng huyết áp). Tuy nhiên, một vấn đề còn bàn cãi là chế độ ăn với tỷ lệ chất béo thế nào thì thích hợp? Nếu chúng ta ăn quá ít chất béo thì cơ cấu bữa ăn sẽ trở nên không cân đối, và cơ thể phải đièu chỉnh bằng chuyển hoá các chất khác sang chất béo gây ra những rối loạn chuyển hoá. Bởi vì, chất béo rất cần để cung cấp năng lượng và tông hợp một số chất quan trọng của cơ thể đặc biệt là các chất nội tiết. Một số nghiên cứu cho rằng nên có chế độ ăn khoảng 10% chất béo.

Chế độ ăn chay thì sao?

Đây là chế độ ăn bao gồm các thức ăn nguồn gốc từ thực vật với rất ít chất béo, nhiều chất tinh bột và nhiều chất xơ. Chế độ ăn này có lợi cho tim mạch nhưng có thể gây thiếu năng lượng, protein và tương đối khó thực hiện cũng như không phải phổ biến để có thể theo đuổi lâu dài. Một số tác giả còn đề cập đến chế độ ăn kiều Địa trung hải với đặc trưng nhiều cá hoặc chế độ ăn lỏng. Tuy nhiên, các chế độ này khó phổ biến và cầu kỳ.

 

Tôi ước giá như mội thứ đơn giản hơn, và tôi có cần phải suy nghĩ quá trước khi ăn thức ăn không?

Trong một chừng mực nào đó bạn vẫn phải hết sức chú ý đến khẩu phần ăn và thành phần thức ăn trước khi ăn. Tuy nhiên, một nguyên tắc đơn giản là bạn luôn luôn nghĩ về chế độ ăn ít chất mỡ động vật, ít năng lượng, nhiều chất xơ.

 Vậy tôi có thể ăn nhiều hơn không khi tôi đã tập thể dục đều?

Xin trả lời là Không. Thể dục là công việc bắt buộc trong lộ trình giảm cân nhưng nếu chỉ thể dục mà không có chế độ ăn kiêng thì cũng sẽ không có ích gì, thậm chí có thể còn làm bạn tăng cân nhanh hơn vì thể dục đã giúp chuyển hoá thức ăn dễ hơn và bạn ăn ngon miệng hơn.

Các nghiên cứu đã khuyên nên tập thể dục đều đặn ít nhất 30 phút hàng ngày trong tuần. Việc đó làm thiêu đốt khoảng 700-1000 calories trong vòng một tuần và bạn cần thiêu đốt khoảng 3500 calories để giảm được nửa cân.

Một số điều cần lưu ý là:

  • Tuổi thọ của bạn sẽ được cải thiện đáng kể nhở tập thể dục đều đặn và nó là một khâu quan trọng để giảm cân.
  • Bạn cần phải được thăm khám và tư vấn của bác sỹ trước khi tiến hành tập thể dục. Nam giới trên 40 tuổi và nữ giới trên 50 tuổi cần được làm nghiệm pháp gắng sức trước khi có chế đọ tập thể dục hợp lý.

Khi tập thể dục có thể làm bạn căng thẳng, mệt mỏi hoặc chấn thương khớp. Hãy bắt đầu hết sức từ tốn và phải nghe ngóng tình trạng sức khoẻ sau đó mới tăng dần cường độ tập thể dục.

Các thuốc giảm cân, vitamine có tác dụng gì không?

Hãy luôn nhớ rằng, tăng cân rất dễ trở lại sau khi giảm cân. Hiện nay có hai nhóm thuốc giảm cân được sử dụng nhiều là Redux và Fen-phen. Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy dùng các thuốc này gây giảm cân nhanh nhưng khi ngừng thường tăng cân lại nhanh. Hơn thế nữa khi dùng các thuốc giảm cân thường có nhiều tác dụng phụ.

Redux và fenfluramine (fenfluramine là chữ đầu của "fen" trong "fen-phen") đã bị rút khỏi thị trường do có thể gây ra tăng áp động mạch phổi, một biến chứng cực kỳ nguy hiểm và có thể tổn thương van tim.

Phentermine và các thuốc tương tự (phentermine chữ thứ hai "phen" trong "fen-phen"). Thuốc này có tác dụng tăng cướng một chất dẫn truyền thần kinh trong não gọi là "norepinephrine".

Meridia (sibutramine) là một laọi thuốc hiện được dùng thêm vào trong chế độ giảm cân. Thuốc này có thể có hại đến hệ tim mạch, bệnh động mạch vành. Khi dùng phải có ý kiến của bác sỹ. Orlistat là thuốc làm giảm hấp thu chất béo qua đường ruột.

Một số thuốc dược thảo được quảng cáo có thể giảm cân. Tuy vậy, các thành phần của chúng người ta có thể chưa biết rõ hết và chúng có thể có ảnh hưởng đến hệ tim mạch nên chúng ta phải hết sức thận trọng khi dùng.

Tóm lại  Chúng ta không nên tự dùng các thuốc giảm cân mà chỉ nên bằng chế độ luyện tập và ăn uống. Trong mọi trường hợp, nếu thấy thật cần thiết thì phải có chỉ định của thày thuốc và sự giám sát chặt chẽ trong việc dùng các thuốc giảm cân.

 

Vai trò của phẫu thuật trong giảm cân?

Đã có vài kỹ thuật được ứng dụng để giảm cân nhưng cũng có những nguy cơ nhất định. Nói chung, việc phẫu thuật chỉ đặt ra khi bệnh nhân quá béo. Kỹ thuật hay được dùng nhiều là cắt bớt dạ dày có kèm hoặc không nối tắt ruột.

Kết luận

Béo phì có xu hướng ngày càng phổ biến. Nó thực sự là mối nguy hiểm về sức khoẻ chứ không phải chỉ đơn thuần là vấn đề thẩm mỹ hoặc sự thổi phồng.

Không có một phương cách kỳ diệu nào để giảm cân nhanh chóng, mà chỉ có sự quyết tâm bền bỉ mới là bí quyết thành công.

Nó là vấn đề lâu dài và cần phải giải quyết liên tục.

Việc giảm cân ở người béo phì chắc chắn làm giảm được nguy cơ bệnh tật (đặc biệt bệnh tim mạch) và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Không có một mục tiêu giảm cân  nào được coi là thông nhất. Tuỳ từng thể trạng, và nói chung nên đặt mục tiêu ban đầu giảm 10% trọng lượng sau đó tiếp tục cho đến mức trọng lượng lý tưởng.

Các thuốc giảm cân không được khuyến cáo dùng một cách thường quy và thường là lợi bất cập hại”.

Tài liệu tham khảo:

  1. 1.https://www.nhlbi.nih.gov/health/health-topics/topics/obe/risks
  2. 2.http://www.world-heart-federation.org/cardiovascular-health/cardiovascular-disease-risk-factors/obesity/
  3. 3.http://circ.ahajournals.org/content/96/9/3248

 

Thông báo đào tạo liên tục

Thứ năm, 09/Tháng 6/2016
Nội dung chương trình đào tạo liên tục lớp cấp cứu ban đầu cơ bản: Tải về   

Video

Ngày đầu tiên

Banner 01B

 

Đường dây nóng:  19009095

BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ

Địa chỉ: Số 1 Trần Khánh Dư, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Điện thoại: 024 3972 2231 - 024 3972 2232  

Website: Http://benhvienhuunghi.vn - Http://huunghihospital.vn  Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.