webmail

 

 

Sinh lý bệnh ngáy trong bệnh lý ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn Nổi bật

I.Cấu trúc đường hô hấp trên và ngừng thở khi ngủ

Cấu tạo giải phẫu của đường hô hấp trên tương đối phức tạp, vùng hầu họng là ngã tư đường giao giữa đường thở và đường tiêu hóa. Khác với vùng xoang mũi và khí quản có cấu trúc tương đối cứng để đảm bảo cho không khí lưu thông, vùng hầu được cấu tạo bởi các cấu trúc cơ niêm, mềm và dễ bị xẹp.

Hoạt động của cơ hoành trong lúc hít vào tạo ra áp lực âm làm cho đường hô hấp trên vùng hầu họng có xu hướng khít lại. Trong điều kiện bình thường vùng hầu họng được giữ ổn định cho không khí có thể lưu thông nhờ trương lực cơ của các cơ ở vùng này (đặc biệt là các cơ căng màn hầu, cơ cằm-lưỡi, cơ cằm-móng). Khi ngủ, các cơ này có xu hướng giãn ra(1), sự giãn này tối đa trong giấc ngủ ở giai đoạn REM (giai đoạn này của giấc ngủ thường kèm theo những giấc mơ). Bên cạnh đó các yếu tố khác như : mô mỡ ở vùng hầu họng trên người béo phì, người có khối cơ lưỡi lớn, nằm ngủ ở tư thế nằm ngửa có thể là những nguyên nhân làm hẹp đường thở ở vùng hầu họng.

Khi đường thở bị tắc nghẽn sẽ dẫn đến giảm độ bão hòa oxy trong máu, kéo theo những giai đoạn tỉnh giấc ngắn trong khi ngủ, những tỉnh giấc ngắn này giúp cho người bệnh lập lại lưu thông không khí bình thường. Ngay sau đó, các cơ vùng hầu họng phục hồi hoạt động, giữ cho đường hô hấp trên mở và luồng khí được lưu thông, tiếp ngay sau đó là sự tăng thông khí để điều chỉnh lại sự thiếu oxy và thải lượng carbonic đang dư thừa trong máu.

Sự lặp lại những lần tắc nghẽn đường hô hấp trên và những đoạn tỉnh giấc ngắn khi ngủ làm phá vỡ cấu trúc giấc ngủ kéo theo sự xuất hiện của hiện tượng buồn ngủ ban ngày hoặc cảm giác mệt mỏi sau giấc ngủ (2).

 

Ngáy và ngừng thở khi ngủ (3)

(A)Trong điều kiện bình thường, không khí lưu thông bình thường.

(B)Khi ngáy, vùng hầu họng hẹp lại và tạo ra luồng xoáy, không khí khi đi qua chỗ hẹp tạo nên tiếng ngáy.

(C)Áp lực âm tính do động tác hít vào tạo ra lực hút làm tắc hoàn toàn đường hô hấp trên

II.Triệu chứng ngáy

Đường hô hấp trên, đặc biệt là vùng hầu họng có xu hướng bị hẹp lại trong khi ngủ như đã nói ở trên, làm cho không khí đi qua vùng này chuyển động với tốc độ cao hơn và tạo ra các luồng xoáy. Sự chuyển động không khí này làm rung các cấu trúc như khẩu cái mền, thành hầu họng, nắp thanh quản và lưỡi đó là nguyên lý tạo ra tiếng ngáy khi ngủ. Tiếng ngáy này thường xuất hiện khi hít vào, rất hiếm khi xuất hiện lúc thở ra.

Wilson K và cộng sự, đã chứng minh cường độ của tiếng ngáy có mối liên hệ với hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn (OSAS - Obtructive sleep apnea syndrome), thường thì trong hội chứng này tiếng ngáy có âm lượng cao hơn. Cũng trong nghiên cứu này, tác giả thấy rằng âm lượng của tiếng ngáy cao hơn ở những người béo phì và nam thì cao hơn nữ (4).

Khi đường thở hẹp hơn ở giai đoạn giảm thở, tiếng ngáy sẽ thay đổi, không những không giảm đi mà còn thường tăng dần về cường độ. Khi xuất hiện ngừng thở, do không còn không khí lưu thông trong đường hô hấp trên do đó tiếng ngáy sẽ mất đi, nhưng ngay sau khi người bệnh thở lại tiếng ngáy sẽ xuất hiện trở lại.

Ở một số người, đặc biệt là trẻ em hoặc một số cá biệt những người bị OSAS rất nặng, tiếng ngáy có thể rất kín đáo(5). Tiếng ngáy phụ thuộc chặt chẽ vào sự chuyển động của không khí ở vùng hầu họng, và dù nó có liên quan mật thiết với phần lớn các trường hợp có OSAS nhưng nếu không có triệu chứng ngáy cũng không thể loại trừ được chẩn đoán.

Từ ngáy đến tăng kháng trở của đường hô hấp trên và hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn

Để chống lại sự tắc nghẽn của đường hô hấp trên, các cơ hô hấp phải làm việc nhiều hơn, nhằm làm gia tăng áp lực âm để cố gắng hít vào được nhiều không khí, bên cạnh đó hệ thần kinh cũng ra tín hiệu kéo dài thời gian hít vào. Hội chứng tăng kháng lực của đường hô hấp trên (Upper airway resistance syndrome-UARS) được mô tả đầu tiên ở trẻ em năm 1982(6). Trong hội chứng này có sự gia tăng của áp lực âm trong lồng ngực khi hít vào nhằm cố gắng thắng lực cản của đường hô hấp trên, điều này thể dẫn tới xuất hiện những khoảng thức giấc ngắn và phá vỡ cấu trúc của giấc ngủ (Respiratory - effort related arousals - RERAs), nhưng không có ngừng thở, giảm thở hay giảm độ bão hòa oxy trong máu. Hội chứng này làm ảnh hưởng tới khả năng tỉnh táo bao ngày, mặc dù không làm giảm oxy máu và vẫn có lưu lượng không khí bình thường khi đo ở mũi. Về mặt điều trị, hội chứng này đáp ứng với các điều trị như đối với OSAS. Vì vậy hiện nay người ta quan tâm nhiều đến những sự xuất hiện của những lần thức giấc ngắn trong chẩn đoán các bệnh liên quan tới rối loạn hô hấp khi ngủ (7, 8) và có thể coi hội chứng tăng kháng trở của đường hô hấp trên là giai đoạn đầu của OSAS.

  1. III.Kết luận:

 Ngáy là một triệu chứng thường gặp, đặc biệt là người có tuổi và béo

phì. Không phải lúc nào ngáy cũng đi kèm với hội chứng ngừng thở khi ngủ nhưng nó là triệu chứng thường gặp nhất của hôi chứng này, và những người có biểu hiện ngáy nếu chưa mắc hội chứng ngừng thở khi ngủ thì cũng là những người có yếu tố nguy cơ cao có thể phát triển thành bệnh. Bên cạnh đó, đôi khi ngáy còn gây phiền hà với người ngủ cùng. Vì vậy, những người có ngáy cần được chẩn đoán và điều trị sớm.

 

Tài liệu tham khảo

1          Oliven A,  Aspandiarov E,  Gankin I,  Gaitini L, Tov N. – Collapsibility of the relaxed pharynx and risk of sleep apnoea. Eur Respir J 2008; 32: 1309-1315.

2          Eckert DJ, Malhotra A. – Pathophysiology of adult obstructive sleep apnea. Proc Am Thorac Soc 2008; 5: 144-153.

3          Senninger F – Abord clinique des troubles du sommeil - Springer Science & Business, 2012,

4          Wilson K,  Stoohs RA,  Mulrooney TF,  Johnson LJ,  Guilleminault C, et al. – The snoring spectrum: acoustic assessment of snoring sound intensity in 1,139 individuals undergoing polysomnography. Chest 1999; 115: 762-770.

5          Viot-blanc V. – Le ronflement caché. Médecine du Sommeil 2012; 9: 37-39.

6          Guilleminault C,  Winkle R,  Korobkin R, Simmons B. – Children and nocturnal snoring: evaluation of the effects of sleep related respiratory resistive load and daytime functioning. Eur J Pediatr 1982; 139: 165-171.

7          Guilleminault C,  Stoohs R,  Clerk A,  Cetel M, Maistros P. – A cause of excessive daytime sleepiness. the upper airway resistance syndrome. CHEST Journal 1993; 104: 781-787.

8          Cao MT,  Guilleminault C, Kushida CA - Chapter 105 - Clinical Features and Evaluation of Obstructive Sleep Apnea and Upper Airway Resistance Syndrome In Principles and Practice of Sleep Medicine (Fifth Edition). W.B. Saunders,Philadelphia 2011, 1206-1218

BS. Nguyễn Minh Sang, Khoa Hô hấp-Dị ứng, Bệnh Viện Hữu Nghị

 

Sửa lần cuối vào Thứ ba, 22 Tháng 9 2015 07:07
Đánh giá
(0 phiếu)
Đọc 281206 lần

Video

Hỗ trợ trực tuyến

Hữu Nghị 1
Hữu Nghị 2
skype skype
Hữu Nghị 1
Hữu Nghị 2

Đường dây nóng:  19009095

BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ

Địa chỉ: Số 1 Trần Khánh Dư, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Điện thoại: 04 3972 2231 - 04 3972 2232  

Website: Http://benhvienhuunghi.vn - Http://huunghihospital.vn  Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.