webmail

 

 

Khoa Nội tổng hợp A

 

I. Lịch sử thành lập khoa:

- Khoa Nội A1 được thành lập ngay từ những ngày đầu Bệnh thành lập Bệnh viện có nhiệm vụ điều trị và chăm sóc sức khỏe cho các đồng chí cán bộ cao cấp của Đảng và nhà nước, một số cán bộ cao cấp của nước Lào, Campuchia và cán bộ sứ quán một số nước.

- Khoa Nội A2 điều trị cho cán bộ thứ trưởng và cán bộ chuyên viên 7 trở lên, các cán bộ của các nhà nước ăn họm là học viên của trường Đảng Nguyễn Ái Quốc.

- Ngày 8 tháng 9 năm 1992 sát nhập 2 khoa Nội A1 và Nội A2 thành khoa Nội A (theo quyết định số 145/VXQĐ do Bác sĩ Nguyễn Xuân Lương – Giám đốc bệnh viện ký).

- Tháng 3 năm 2009, khoa Nội A sát nhập với phòng khám A thành khoa Nội Tổng hợp A.

II. Cơ cấu tổ chức:

- Trưởng khoa: TS. Nguyễn Thị Thanh Phượng

- Phó trưởng khoa: ThS.BS. Tường Thị Vân Anh

- Điều dưỡng trưởng: CNĐD. Trương Văn Lý

- Khi mới thành lập Khoa Nội Tổng hợp A chỉ có 45 giường bệnh với 6 bác sĩ, 13 y tá và 2 hộ lý, đến nay số giường bệnh của khoa đã tăng lên 74 giường với 43 cán bộ viên chức, trong đó có 1 tiến sĩ, 1 Bác sĩ chuyên khoa I, 3 thạc sĩ , 7 bác sĩ , 28 điều dưỡng, 2 hộ lý.

III. Chức năng nhiệm vụ:

 Khoa Nội Tổng hợp A có nhiệm vụ điều trị và chăm sóc sức khỏe cho các đồng chí cán bộ cao cấp của Đảng và nhà nước từ thứ trưởng và cán bộ chuyên viên cao cấp bậc 4 trở lên, các cán bộ lão thành cách mạng, một số cán bộ cao cấp của các nước bạn Lào, Campuchia, cán bộ sứ quán một số nước, cán bộ của các nước anh em là học viên của trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Mỗi năm khoa điều trị nội trú cho hơn 1700 lượt bệnh nhân, khám và điều trị ngoại trú cho hơn 19000 lượt bệnh nhân tại phòng khám A. Chất lượng chẩn đoán, điều trị và chăm sóc bệnh nhân ngày càng được nâng cao. Nhiều kỹ thuật cao và các thuốc tốt đã được áp dụng điều trị giúp nâng cao hiệu quả điều trị, nhiều bệnh nhân nặng, bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo đã được cứu sống. Những trường hợp cần khoa đều mời các giáo sư trong Hội đồng chuyên môn hội chẩn kịp thời. Hiện nay, khoa đã được trang bị nhiều phương tiện chẩn đoán và điều trị, tất cả các buồng bệnh của khoa đều được trang bị hệ thống tracking (oxy, khí nén và máy hút), ngoài ra khoa còn được trang bị các máy móc như máy siêu âm, máy holter điện tim, holter huyết áp, máy khí dung, bơm tiêm điện. Trong nhiều năm qua, khoa liên tục cải tiến cách thức làm việc. Từ hình thức tổ chức làm việc theo ca chuyển sang hình thức làm việc theo giờ hành chính và chế độ trực 24h đã khắc phục được tình trạng thiếu nhân lực đồng thời để bệnh nhân vẫn được chăm sóc tốt nhất. Hiện nay, khoa đang tổ chức các hình thức nhóm chăm sóc bệnh nhân để hạn chế bớt lượng người giúp việc trong khoa đảm bảo được công tác an ninh trật tự trong khoa cũng như đảm bảo được công tác vệ sinh. Ngoài vấn đề chăm sóc thuốc men, tiêm truyền, đội ngũ điều dưỡng hộ lý của khoa còn đảm bảo cho bệnh nhân ăn uống, vệ sinh, gội đầu cho bệnh nhân nặng. Đội ngũ bác sĩ của khoa cũng luôn được đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn. Trong những năm qua, khoa đã đào tạo được 2 tiến sĩ, 3 thạc sĩ, 2 bác sĩ can thiệp mạch, 3 cử nhân điều dưỡng. Các bác sĩ của khoa đã tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chẩn đoán và điều trị, thành thạo các kỹ thuật chuyên môn. Hiện tại khoa đã tự làm siêu âm tim, siêu âm ổ bụng, siêu âm Doppler mạch cho bệnh nhân nội trú, một số bệnh nhân ngoại trú và bệnh nhân ở các khoa phòng khác chuyển đến. Chất lượng chẩn đoán điều trị ngày càng được nâng cao rõ rệt được bệnh nhân và người nhà bệnh nhân tin tưởng, được bệnh viện đánh giá cao.

IV. Thành tích đã đạt được:

     Tập thể khoa liên tục đạt danh hiệu tập thể lao động xuất sắc, tổ công đoàn xuất sắc, chi bộ trong sạch vững mạnh từ 1992 – đến nay.

- Năm 1999 được tặng thưởng huân chương lao động hạng nhì.

- Năm 2012 được tặng thưởng huân chương lao động hạng nhất.

- Được Ban bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương tặng cờ thi đua các năm 2004, 2006, 2007, 2008 và bằng khen các năm 2005, 2009, 2011.

- Nhiều bằng khen và giấy khen của các cơ quan đoàn thể.

- Chi đoàn khoa nhiều nhiều năm liền đạt cờ thi đua xuất sắc.

     Cá nhân: PGS Phạm Gia Cường được phong tặng danh hiệu thầy thuốc nhân dân, PGS.TS. Lê Văn Thạch, TS Bùi Thị Thanh Hà được phong tặng danh hiệu thầy thuốc ưu tú. TS Bùi Thị Thanh Hà nhiều năm liên tục đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp cơ sở, chiến sĩ thi đua cấp bộ và năm 2012 đã được Chủ tịch nước tặng huân chương lao động hạng 3.

V. Hướng phát triển:

     Không ngừng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chất lượng chăm sóc toàn diện, áp dụng những kỹ thuật hiện đại, tăng cường công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, xây dựng khoa Nội Tổng hợp A thành một khoa hoàn chỉnh với đầy đủ các phương tiện thăm dò chức năng như siêu âm, nội soi.

VI. Một số hình ảnh hoạt động, ảnh tập thể:

Hình ảnh tập thể khoa Nội A nhận bằng khen

VII. Trưởng, phó khoa phòng qua các thời kỳ:

Trưởng khoa:

- PGS Phạm Gia Cường 1992 - 1998

- BS. Nguyễn Trọng Anh 2/1998 - 2/2003

- PGS.TS. Lê Văn Thạch 2/2003 - 11/2003

- TS. Bùi Thị Thanh Hà 11/2003 đến nay.

Phó trưởng khoa:

- BSCK II Từ Ngọc Tân 1992 - 2001

- BSCK I Nguyễn Thị Tám 1992 - 1993

- TS. Đặng Lịch 2001 - 7/2003

- TS Bùi Thị Thanh Hà

VIII. Các đề tài nghiên cứu khoa học:

- “Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn tiết niệu trên bệnh nhân phì đại lành tính tuyến tiền liệt”. (Nguyễn Thanh Vân, Trần Đức Thọ, Nguyễn Xuân Quang).

- “ Ứng dụng của test 5 từ trong khám sàng lọc suy giảm nhận thức ở người có tuổi”. (Nguyễn Thanh Vân, Phạm Thắng).

- “Đánh giá bước đầu về đặc điểm lâm sàng suy giảm chức năng trí tuệ ở bệnh nhân sau nhồi máu não trên 60 tuổi” (Nguyễn Thanh Vân, Phạm Thắng, Lê Quang Cường, Tạ Thành Văn).

-  “Ứng dụng một số trắc nghiệm thần kinh tâm lý trong chẩn đoán sa sút trí tuệ sau nhồi máu não ở bệnh nhân trên 60 tuổi” (Nguyễn Thanh Vân, Phạm Thắng, Lê Quang Cường, Tạ Thành Văn).

- “Liên quan giữa tổn thương hình ảnh hình ảnh học của não và tình trạng rối loạn nhận thức sau nhồi máu não” (Nguyễn Thanh Vân, Phạm Thắng, Lê Quang Cường, Tạ Thành Văn).

- “Sa sút trí tuệ sau nhồi máu não và một số yếu tố nguy cơ”. (Nguyễn Thanh Vân, Phạm Thắng, Lê Quang Cường, Tạ Thành Văn).

- Tham gia đề tài cấp bộ: “ Đánh giá khả năng chụp cắt lớp vi tính 64 dãy trong bệnh lý mạch vành” (PGS.TS. Lê Văn Thạch).

- Tham gia đề tài nghiên cứu khoa học của Ban bảo vệ sức khỏe: “Điều tra tình hình bệnh tật của cán bộ thuộc đối tượng quản lý của Ban bảo vệ sức khỏe” (Cử nhân Trương Văn Lý).

- “Nhận xét các trường hợp tử vong do ung thư gan nguyên phát tại bệnh viện Hữu Nghị trong 5 năm (1993-1997)” (TS. Bùi Thị Thanh Hà)

- “ Nhận xét về 41 trường hợp tử vong do ung thư phế quản nguyên phát” (TS. Bùi Thị Thanh Hà).

- “ Nhận xét 76 trường hợp tử vong do ung thư gan nguyên phát tại bệnh viện Hữu nghị 5 năm 1993-1997”,Y học Việt Nam, số 9, tr 52-56,(1998).

- “ Bước đầu sử dụng phương pháp chọc hút tế bào bằng kim nhỏ để chẩn đoán ung thư gan tại bệnh viện Hữu Nghị”, Y học thực hành, số 7(384), tr 23-25,(2000).

- “ Sử dụng phương pháp sắc ký lỏng cao áp khảo sát nồng độ Aflatoxin trong tổ chức gan của người”, Tạp chí phân tích hóa lý và sinh học, số 4, tr9-12,(2001).

- “Bước đầu tìm hiểu sự có mặt của Aflatoxin trong bệnh phẩm gan của bệnh nhân ung thư gan nguyên phát”, Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học NCS, NXB Y học, (2001).

- “ Khảo sát nồng độ Aflatoxin trong dịch cổ chướng của bệnh nhân xơ gan”, Tuyển tập các công trình NCKH NCS, NXBY học, tr47-5,(2001).

- “Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân ung thư gan nguyên phát”, Báo cáo HNKH chất lượng VSAT thực phẩm lần thứ 1(2001).

- “Kết quả định lượng Aflatoxin trong bệnh phẩm sinh học của bệnh nhân ung thư gan nguyên phát và xơ gan”, Tạp chí thông tin y dược, Bộ Y tế, Hà Nội,tr143-157,(2003).

- “Nhận xét kết quả mổ tử thi ở 36 trường hợp ung thư gan nguyên phát”, Tạp chí thông tin y dược, số đặc biệt chuyên đề bệnh gan mật, Bộ Y tế, Hà Nội, tr148-150,(2003).

- “Thông báo trường hợp sán lá gan lớn tại bệnh viện Hữu Nghị”,(2004).

- “Nhận xét về thói quen ăn uống ở 40 bệnh nhân ung thư gan nguyên phát được định lượng Aflatoxin B1trong bệnh phẩm sinh học”, (2006).

- “Nhận xét đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và đánh giá kết quả điều trị các bệnh nhân gút tại khoa Nội A”, (2005).

- “Nhận xét 2 trường hợp được chụp động mạch vành can thiệp tại khoa Nội A bệnh viện Hữu Nghị”, (2006).

- “Đánh giá kêt quả điều trị viêm gan B mạn tính tiến triển bằng Entercavir”, (2010).

- “Nhân 2 trường hợp ung thư tiền liệt tuyến”, (2011).

- “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng nhồi máu não ở bệnh nhân đái tháo đường tuyp 2”, Tạp chí Y học thực hành 4/2012. 14-17.

- “Bước đầu đánh giá các thông số huyết động trong nhồi máu cơ tim cấp ở khoa hồi sức cấp cứu Bệnh viện Hữu Nghị”. Kỷ yếu công trình NCKH Bệnh viện Hữu Nghị 1998-2001. 237-280.

- “Nhân một trường hợp giảm tiểu cầu do thuốc”. Tạp chí nội khoa 1/2009. 660-663.

- “Nghiên cứu sự thay đổi mức độ hở van ba lá cơ năng sau nong van hai lá bằng bóng Inoue ở bệnh nhân hẹp van hai lá khít”. Tạp chí Y học thực hành 4/2011. 102-104.

Sửa lần cuối vào Thứ hai, 04 Tháng 9 2017 18:46
Đánh giá
(2 phiếu)
Đọc 6924 lần

Video

Hỗ trợ trực tuyến

Hữu Nghị 1
Hữu Nghị 2
skype skype
Hữu Nghị 1
Hữu Nghị 2

Đường dây nóng:  19009095

BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ

Địa chỉ: Số 1 Trần Khánh Dư, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Điện thoại: 04 3972 2231 - 04 3972 2232  

Website: Http://benhvienhuunghi.vn - Http://huunghihospital.vn  Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.